Thứ năm, 04/01/2018, 03:52
Chia sẻ:

CẢNG SÀI GÒN XƯA VÀ NAY

Được xếp vào hàng thứ 8 trong số các cảng của nước Pháp, hàng thứ 3 trong số các cảng của thuộc địa Pháp, (sau cảng Oran và cảng Alger, đều thuộc  Algérie) và hàng thứ 12 trong số các quân cảng của Pháp về mặt trọng tải, cảng Sài Gòn đã từng có một vị trí trọng yếu đối với nền kinh tế của Đông Dương. Ngày nay, nó lại càng giữ vai trò đặc biệt, trở thành đầu mối giao thông quan trọng  của Đông Nam Bộ với thế giới . Mỗi năm, lượng hàng hóa lưu chuyển  qua cảng Sài Gòn khoảng 10 triệu tấn, chiếm 10% GDp của Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngay sau khi chiếm được Sài Gòn và vùng phụ cận, với mục đích buôn bán trao đổi sản phẩm và chinh phục Nam Kỳ, chính phủ Pháp đã ra quyết định thành lập cảng Sài Gòn. Ngày 22/02/1860, ở Sài Gòn đã bắt đầu có hoạt động xuất nhập khẩu các loại hàng hóa  do một số tư sản người Hoa ở Singapore sang nhận thầu. Một hệ thống cầu tàu bằng gỗ dài 1.800 m trên bờ sông Sài Gòn được xây dựng để bốc xếp hàng hóa, xuất khẩu lúa gạo.

song_sai_gon

Ảnh sông Sài Gòn xưa

Tháng 2/1861, Hãng Vận tải Hoàng Gia (Messageries Impériales) được chính phủ Pháp chỉ định phụ trách tuyến đường Viễn Thông đã quyết định xây dựng cơ sở ở Sài Gòn. Hãng cử người sang khảo sát và tìm địa điểm xây dựng cảng. Ngày 14/10/1861, kết quả được gửi về Pháp và một kế hoạch thực hiện được đề ra.

Ngày 28/03/1862, Ginette, Tổng thanh tra của hãng xin đổi lô đất ở phía bắc rạch Thị Nghè lấy lô đất nhỏ hơn nhưng có vị trí thuận lợi hơn, là kho vực bến Nhà Rồng hiện nay. Ngày 22/05/1862, Phó Đô đốc Bonard kí quyết định nhượng lô dất này cho Hãng Vận tải Hoàng gia. Khoảng giữa năm 1862, hãng đã tiến hàng xây dựng ngôi Nhà Rồng. Ngày 15/8/1862, khánh thành hải đăng Vũng Tàu. Tiếp đó, việc lắm đặt đường dây điện tín Sài Gòn – Vũng Tàu và cột cờ Thủ Ngữ để hướng dẫn tàu ra vào cảng Sài Gòn cũng được tiến hành.

cang_sai_gon

Cảng Sài Gòn xưa

Ngày 31/12/ 1866, Doumergue, tổng đại diện của hãng đã làm đơn xin lô đất ở góc đường Stratégique (góc đường Lê Thánh tôn – Nguyễn Thị Minh Khai nay). Ngày 05/ 02/ 1882, hãng lại xin thêm 3 lô đất khác: 1 lô ở phía bắc của rạch Thị Nghè, sát sông Sài Gòn; 1 lô ở bờ nam rạch Thị Nghè (chỗ Sở thú ngày nay); 1 lô ở ngã ba sông Sài Gòn với rạch Bến Nghé (cột cờ Thủ Ngữ).

Ngày 23/11/1862, con tàu hơi nước của cảng khai trương tuyến đường biển Pháp – Sài Gòn. Đầu năm 1864, thương cảng Sài Gòn được hoàn thành, bao gồm 3 công trình lớn. Đầu tiên là hệ thống cầu tàu gồm 3 cầu bằng gỗ, mỗi cầu dài 50m, riêng cầu số 3 nằm về phía nam dài 80m. Kế đến là dãy nhà kho chứa hàng nằm trên bờ, dọc theo 3 cầu dài 350 m (kinh phí gần 3 triệu francs trong khi dự trù chỉ có 1 triệu francs), từ ngã ba sông Sài Gòn – rạch Bến Nghé xuôi về phía nam. Riêng các xưởng thợ và kho đã phảo lợp trên 18. 000 m2 mái ngói.  Sau cùng là trụ sở làm việc cảu Hãng Vận tải Hoàng gia với tên gọi Hôtel des Messagerises Impériales (Hôtel des MI).

Trụ sở chính của Hãng Vận tải Hoàng gia là Nhà Rồng, ngôi nhà có kiến trúc độc đáo, chủ yếu là kiến trúc phương Tây, riêng phần mái mang dếu ấn kiến trúc Trung Hoa. Tòa nhà cao 3 tầng, hình chữ nhật, dài 35m, rộng 27m, mỗi tầng có hành lang rộng 4m chạy bao bọc  xung quanh. Mái nhà  lợp bằng ngói, tường sơn màu gạch đỏ. Trên nóc nhà gắn 2 con mắt rồng ghếp bằng những mảnh sành nhiều màu đang uống lượn, châu đầu vào nhau theo thế “lưỡng long chầu nguyệt”. Đến năm 1891, khi hãng Messagerises Impériales đổi thành hãng Messagerises Maritimes thì hình mặt trăng được thay bằng phù hiệu của hãng: một vương miện hoàng hậu, một mỏ neo và một đầu ngựa.Vương miện tượng trưng cho Hoàng gia, mỏ neo tượng trưng cho tàu biển, đầu ngựa tượng trưng cho vận tải trên bộ. Hai con rồng quay đầu ra hai phía. Vì thế, nhân dân Sài Gòn gọi là “Nhà Rồng” hãy Hãng Đầu Ngựa. Người cai quản tòa này là một quan năm người Pháp nên địa điểm này còn gọi là sở Ông Năm. Ngày nay, trên nóc ngôi nhà vẫn xòn giữ lại bảng hiệu của hãng giống như trên ống khói của các tàu thuộc hãng MI.

hang_nam_sao

Hãng Năm Sao

Đầu thế kỷ XX, cảng Sài Gòn trở nên quá tải. Năm 1902, Hãng Chargeur Resunis (còn gọi là hãng Năm sao) đầu tư xây dựng thêm một bến đậu (không xây dựng cầu tàu) nữa trên đoạn sông từ đường Paul Blanchy (đường Hai Bà Trưng nay) chạy về phía Arsenal de Saigon (Xưởng Ba Son), dài 250m. Hãng Chrrgeur Resunis được thành lập năm 1872 tại thành phố cảng Dunkerque ở miền Bắc nước Pháp. Năm 1902, hãng chính thức đăng ký chạy tuyến Dunkerque – Hải Phòng. Tại Việt nam, hãng có 3 bến đỗ: Hải Phòng, Đà Nẵng và Sài Gòn.

Ngày 5/6/1911, tại cảng Sài Gòn, chàng trai Việt Nam tên Văn Ba (sau này là Hồ Chí Minh) đã lên tàu Amiral Latouche Tresville, ra đi tìm đường cứu nước.

Năm 1911, cảng Sài Gòn chia làm 2 cảng chính: Quân cảng và thương cảng. Quân cảng dài 600m, từ Xưởng Ba Son đến bến Primauguet (công trường Mê Linh nay). Thương cảng Sài Gòn cũng dài 600m, từ bến Primauguet đến cầu Quay (xây 1904, nay là cầu Khánh Hội). Bến Nhà Rồng ở bên kia rạch Bến Nghé là phần nối tiếp của thương cảng.

Do nhu cầu vận chuyển hàng hóa, hành khách tăng cao nên chính phủ Pháp mở thêm bến Khánh Hội vào năm 1912, mặc dù có quyết định xây dựng từ năm 1900 nhưng do hoàn cảnh còn nhiều khó khăn. Bến Khánh Hội được hoàn thành, thương cảng Sài Gòn kéo dài đến ngã ba Kinh Tẻ (cầu Tân Thuận nay). Bến tàu dài 1.100 m, từ Nhà Rồng đến đốn Nam (pháo đài Hữu Bình dưới thời Nguyễn), đủ chỗ cho 9 chiếc tàu lớn đậu, mỗi chiếc dài 120m. Các kho hàng được đựng cách bờ sông 15m, tổng cộng là 24.225m, 16 phao nổi được đặt làm chỗ cho tàu đậu tạm cả hai bên Khánh Hội và Thủ Thiêm.

Tháng 6/ 1922, chính thức sáp nhập giang cảng Chợ Lớn với thương cảng Sài Gòn do sự thông thương tuận tiện qua ngõ kinh Tẻ, tạo thành một hệ thống đường thủy và cửa khẩu hoàn chỉnh để đẩy mạnh xuất khẩu gạo được qui tụ từ các tỉnh Nam Kỳ về Chợ Lớn. Tại Chợ Lớn, giang cảng dài trên 4.250 m, có bể sửa tàu Lanessan, cơ sở đóng ghe thuyền quan trọng.

Theo Annuaire des Etats Associés (1953), cảng Sài Gòn (khoogn kể quân cảng 537,02m), gồm 3 phần:

Hải cảng Sài Gòn dài 4.000 m nằm ở hữu hạn sông Sài Gòn, từ ranh giới Quân Cảng (bến đò Thủ Thêm đầu đường Hai Bà Trưng), cũng chia  làm 3 đoạn. Từ ranh giới Quân Cảng đến vàm rạch Bến Nghé (đường Tôn Đức Thắng nay), có 3 cầu tàu dài 81m, 64m và 43m cho tàu chạy đường sông. Từ rạch Bến Nghé đến kinh Tẻ (dọc đường Nguyễn Tất Thành), có 2 bến: bến Nhà Rồng (3 cầu tàu, dài 380 m) và bến Khánh Hội ( 9 cầu tàu, dài 1.032 m). Trên sống có 21 phao neo tàu ( 5 phao bên phải và 16 phao bên trái).

Hải cảng Nhà Bè: Nằm trên sông Nhà Bè, cách Sài Gòn 16 km, dành cho các tàu chở hàng dễ cháy nổ, gồm 5 cầu tàu cho tàu dầu và 3 phao neo tàu.

Giang cảng Sài Gòn – Chợ Lớn dài 26. 500 m, nằm trên các rạch Tàu Hủ, Lò Gốm, Kinh tẻ, kinh Đôi, có nhiều cầu tàu công và tư.

Kho hàng gồm 7.600 m2 thuộc Hãng Nhà Rồng, 34.200 m2 thuộc bến Khánh Hội, 36.200 m2 thuộc bến Tân Thuận Đông  (dành cho quân đội), tổng cộng là 77.800 m2.

Từ sau năm 1954, Quân cảng dài 2.000 m với 11 cầu tàu; Thương cảng dài gần 2.000 m, có 14 cầu tàu và 6 bến. Khi Mỹ đổ quân vào miền Nam, chúng lại xây thêm 6 cảng mới dọc trên sông Sài Gòn – Nhà Bè để tăng khả năng tiếp nhận hàng quân sự.

Năm 1976, khi mới tiếp quản, cảng Sài Gòn có tổng diện tích 475. 000 m2 với 1. 600 m cầu tàu, cở sở vật chất nghèo nàn, cũ kỹ, khả năng bốc xếp chỉ hơn 1 triệu tấn hàng.

Đến tháng 4/ 2000, cảng Sài Gòn đưuọc nâng cấp hiện đại. Ngày nay, cảng Sài Gòn đã trở thành cảng biển quốc tế lớn nhất miền Nam, một cụm cảng trọng điểm quốc gia, có diện tích 560. 000 m2, gồm 2. 977 m cầu tàu, 34 bến phao, 276. 094 m2 bãi chứa hàng và củng cố để trở thành cảng biển hiện đại nhất Việt Nam, có tầm cỡ khu vực Đôgn Nam Á.

Kể từ ngày 1/ 8/ 2002, cảng Cần Thơ được sáp nhập vào cảng Sài Gòn để loại bỏ sự cạnh tranh khoogn cần thiết giữa  hai cảng và khơi dậy tiềm năng, phát huy đúng mức vai trò của một khu cảng đa dụng tại thành phố trung tâm đồng bằng sông Cửu Long.

Năm 1992, cảng Sài Gòn được kết nạp là hội viên thường trực Hiệp hội Cảng biển quốc tế. Năm 1994 là thành viên Hiệp hội Cảng biển Việt Nam, quan hệ hợp tác với cảng Osaka (Nhật), Trạm Giang  (Trung Quốc). Năm 1996 là đại biểu thường xuyên tham gia hoạt động Hiệp hội Cảng biển các nước Đôgn Nam Á. Đến năm 1999 đặt quan hệ hợp tác với cảng Los Angeles (Hoa Kỳ).

sai_gon

Cảng Sài Gòn xưa

Hoạt động xuất nhập khẩu ngay năm đầu tiên mở cảng (1860) đã có 111 tàu các nước châu Âu và 140 ghe thuyền Trung Hoa với tải trọng 80. 000 tônnô cập bến Sài Gòn, xuất khẩu 60. 000 tấn gạo đi Hông Kong và Singapore. Năm 1865 có 254 tàu buôn từ nhiều nước châu Âu cập cảng Sài Gòn, trong đó coa 92 tàu của Pháp. Từ ngày 1/ 10/ 1865 đến ngfay 1/ 10/ 1866 đã có 348 tàu buôn các nước châu Âu, trông đó có 89 tàu Pháp (tải trọng 63. 000 tônnô) và 119 tàu của Anh (tải trọng 44. 627 tônnô) cập bến Sài Gòn.

Năm 1885, cảng Sài Gòn đã tiếp nhận tàu buôn của nhiều công ty, thuộc nhiều quốc tịch. Ngoài tàu buôn của Pháp chiếm tỷ lệ quan trọng nhất, còn có các tàu của Anh, Đức, Mỹ, Hà Lan, Bỉ, Na Uy ...

Năm 1904, tổng trọng tải tàu bè ra vào cảng sài Gòn đạt 900. 000 tấn. Mười bốn năm sau (1918), con số này đã lên đến 2,6 triệu tấn. Nếu tính thêm cả giang cảng Chợ Lớn thì đạt 5 triệu tấn.

Năm 1920, cảng Sài Gòn tiếp nhận 1. 500 lượt tàu ra vào thuộc nhiều quốc tịch; mười năm sau (1930) tăng lên 1. 800 lượt với trên 4 triệu tấn hàng hòa.

Năm 1969, số lượng hàng hóa xuất nhập ở cảng Sài Gòn là 7.962.000 tấn với số tàu ra vào là 6. 245 chiếc. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954 – 1975), hơn 80% vũ khí, hoàng hóa, phương tiện chiến tranh của Mỹ đưuọc đưa vào Việt Nam bằng đường biển. Trong số 3 cảng (Cam Ranh, Đà Nẵng, Sài Gòn) thì cảng Sài Gòn giữ vị trí hàng đầu với trên 70% số hàng hóa, vũ khí.

Năm 1976,  cảng Sài Gòn chỉ mới bốc xếp 1,1 triệu tấn hàng. Năm 1996 đã tăng lên 7,3 triệu tấn. Năm 2002, có 12 triệu tấn hàng thông qua cảng Sài Gòn.

sai-gon-20

Để phù hợp với quy hoạch phát triển Thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, hiện đã có dự án di dời cảng Sài Gòn, Tân Cảng và nhà máy Ba Son ra khu vực Cái Mép – Thị Vải (Bà Rịa – Vũng Tàu) hoặc Gò Da (Cần Giờ). Gần 1,5 thế kỷ qua, thương cảng Sài Gòn đã gắn liền với sự hình thành và phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh, nó đã hoàn thành sứ mệnh là cở sở “hậu cần” của một đo thị dựa trên hoạt đông thương mại chính là cảng.

Nguồn: Sài Gòn đất và người – Nguyễn Thanh Lợi

Chia sẻ:
Ý kiến bạn đọc
Quảng cáo
binh dien
LANCASTER
satra